ĐÁP ÁN & BIỂU ĐIỂM
PHẦN I: ĐỌC – HIỂU (3 điểm)
- Yêu cầu về kĩ năng:
- Thí sinh có kĩ năng đọc hiểu văn bản;
- Diễn đạt rõ ràng, chính xác, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
-Câu trả lời phải đầy đủ 2 thành phần chính C-V.
-Trừ ½ số điểm nếu câu trả lời không đầy đủ 2 thành phần
2. Yêu cầu về kiến thức: .
a.Câu1: Phương thức biểu đạt của đoạn trích trên: nghị luận (0.5 điểm)
b.Câu 2: Đoạn văn chủ yếu sử dụng phép lăp (trải nghiệm) để liên kết.(0,5 điểm)
c. Câu 3: Nội dung của văn bản: Tuổi trẻ cần phải có thật nhiều trải nghiệm như đi và khám phá những vùng đất mới, làm và học những điều mới(0,5 điểm) , thoát ra khỏi vùng an toàn của chính mình để khẳng định bản thân.(0,5 điểm)
d.Câu 4 :Học sinh cần nêu được “vùng an toàn” của mình (0,25 điểm), lí giải có sức thuyết phục (0,75 điểm)
PHẦN II: LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1: (2,0 điểm)
a) Yêu cầu về kĩ năng: Học sinh biết viết đoạn văn nghị luận xã hội, biết triển khai luận điểm, diễn đạt mạch lạc.
- Yêu cầu hình thức:
+ Không tách dòng (Tách dòng: - 0.5đ).
+ Số dòng theo quy định, được phép ± 3 dòng).
- Yêu cầu về nội dung: Bài làm có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau nhưng phải phù hợp với chuẩn mực, đảm bảo các nội dung chính sau:
b ) Yêu cầu về kiến thức:
- Giới thiệu được vấn đề cần nghị luận.
- Bày tỏ quan điểm và biết cách lập luận bảo vệ ý kiến của bản thân :
+ Cần phải sống tích cực, chủ động để tiếp nhận thế giới và khám phá bản thân.
+ Ngay cả cái cây còn có khát khao vươn tới thì tuổi trẻ không thể sống thụ động mờ nhạt, phí hoài thanh xuân.
+Nhận thức được điều này tuổi trẻ cần điều chỉnh bản thân để sống tự tin và năng động hơn.
+Không đứng yên một chỗ còn có nghĩa là không ngừng học tập và trau dồi bản thân trên nhiều lĩnh vực.
Lưu ý: Học sinh có thể trả lời theo những cách khác nhau nhưng phải tỏ ra hiểu đề, biết cách nêu ý kiến của bản thân. Đáp án chỉ là một vài gợi ý. GV căn cứ vào bài làm HS để cho điểm.
c/ Biểu điểm:
• Điểm 2: Văn viết lưu loát, mạch lạc, từ dùng chính xác, ấn tượng sử dụng được các thao tác lập luận .
• Điểm 1: Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cơ bản của đề nhưng chưa có chiều sâu, diễn đạt có chỗ chưa thật lưu loát.
• Điểm 0: Để giấy trắng, lạc đề.
Câu 2: (5,0 điểm)
a) Yêu cầu về kĩ năng:
- Nắm vững phương pháp làm bài nghị luận văn học
- Bài viết có bố cục rõ ràng, mạch lạc, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b/ Yêu cầu về nội dung: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng bài viết phải bảo đảm các ý sau:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận - Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận, trích dẫn nhận định(0,75 điểm)
- Cảm nhận để làm sáng tỏ nhận định(3,25 điểm)
* Luận điểm 1: Nỗi buồn mênh mông trước trời rộng, sông dài:(1,75 điểm)
-Nỗi buồn được khắc sâu qua hình ảnh những cánh bèo trôi dạt lênh đênh, gợi ấn tượng về sự chia li tan tác. Toàn cảnh sông dài tuyệt nhiên không có lấy bóng dáng con người mà chỉ có thiên nhiên (bờ xanh) với thiên nhiên (bãi vàng)xa vắng, hoang vu.(khổ 3)
-Nhà thơ mượn một số cách diễn đạt của thơ Đường mà vẫn giữ được nét riêng biệt của thơ mới và vẫn thể hiện khá rõ nét độc đáo của hồn thơ Huy Cận. Thiên nhiên tuy tráng lệ, hùng vĩ (lớp lớp mây cao đùn núi bạc) nhưng vẫn buồn vì trong cảnh mây trời bao la ấy bỗng hiện lên một cánh chim bé nhỏ lạc lõng cô đơn bị bóng chiều đè nặng. Thủ pháp đối lập càng làm bật lên cái cao rộng của bầu trời và nỗi buồn của khung cảnh.( khổ 4)
* Luận điểm 2: Nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn trước cuộc đời: (1,5 điểm)
- Điểm nhấn ở khổ thơ thứ ba nằm ở chỗ thiếu vắng trong bức tranh tràng giang. Cách nói phủ định “không một chuyến đò ngang, không cầu” cho thấy tận sâu trong nỗi buồn của tác giả là niềm khao khát được giao hòa với cuộc đời vì con đò ngang hay cây cầu chính là tín hiệu nối giữa hai bờ .
-Khổ thơ thứ tư đậm chất Đường thi hơn cả khi câu thơ của Huy Cận không chỉ mang bóng dáng (đùn núi bạc) mà còn chứa đựng cả tinh thần của thơ xưa trong câu thơ “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Có điều khi ông nói “không khói”, tức cũng cách nói phủ định ở khổ thơ trước thì ý thơ thêm sâu và hồn thơ thêm cổ kính nhưng đọng lại vẫn là nỗi sầu nhân thế vì con người đã cảm thấy bơ vơ trên chính quê hương mình. Câu thơ thể hiện lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha.
- Đánh giá (0,5 điểm):Nỗi buồn ở bài thơ này nói chung và hai khổ thơ cuối nói riêng, trước hết chính là nỗi buồn của cả thế hệ Huy Cận, cả dân tộc Việt Nam trong những năm thuộc Pháp. Ngoài ra đó còn là nỗi buồn xuất phát từ chính quan niệm mĩ học của các nhà thơ lãng mạn đương thời. Theo họ cái đẹp thường sóng đôi với cái buồn. Nhưng cái buồn của nhà thơ trong bài này là cái buồn trong sáng, góp phần làm phong phú thêm cho tâm hồn của người đọc
-Kết bài (0,5 điểm):
Tràng giang là bài thơ tiêu biểu, thể hiện rõ nhất phong cách nghệ thuật của thơ Huy Cận. Tác giả đã “gọi dậy cái hồn Đông Á, người đã khơi lại cái mạch ngầm mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này”.
* Lưu ý: Học sinh có thể cảm nhận bài thơ theo các cách khác nhau nhưng phải bảo đảm là hiểu đề và có ý thức lập luận làm sáng tỏ yêu cầu đề chứ không phân tích thơ chung chung.
c/ Biểu điểm:
• Điểm 5: Bài làm sâu sắc, có cảm xúc, văn viết lưu loát,dẫn chứng chính xác, biết cách làm sáng tỏ yêu cầu đề là phân tích thơ để chứng minh nhận định, lập luận vững.
• Điểm 3 - 4: Hiểu đề, có ý thức lập luận, dẫn chứng chính xác,biết cách phân tích thơ nhưng cảm nhận chưa có chiều sâu, diễn đạt có chỗ chưa thật lưu loát, diễn đạt còn vụng.
• Điểm 2: Chưa nắm được yêu cầu của đề, phân tích thơ chung chung , diễn đạt còn vụng, chủ yếu diễn xuôi câu thơ.
• Điểm 1: Bài viết sơ sài, làm chiếu lệ, lạc đề
• Điểm 0: Để giấy trắng.
---------- Hết ----------